http://namduoctuetinh.com/

5 (100%) 1 vote

Lương y Nguyễn Kiều một thầy thuốc, một chiến sĩ cách mạng đã gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, cho nền Nam Y của nước nhà.

Ông sinh năm 25-5-1891, ở xóm 2, thôn Long Hậu, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp). Vốn là thầy thuốc bắc nổi tiếng, song xuất phát từ lòng yêu nước thương dân, ông đã theo con đường của Tuệ Tĩnh, say mê nghiên cứu thuốc Nam trị bệnh giúp người lao động. Ông sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1927, ông đã tham gia phong trào thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Đầu năm 1930, đã được kết nạp vào đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1930, ông bị thực đan Pháp bắt và đầy ra Côn Đảo với cái án 20 năm tù khổ sai.

NGƯỜI THẦY THUỐC CÁCH MẠNG

Trong 15 năm từ đầy chịu biết bao cực hình đau đớn về thể xác, nhưng với nghị lực của 1 chiến sĩ cách mạng ông đã vượt qua xiềng xích tra tấn giã man của cai ngục, giữ vững ý trí cách mạng. Được tiếp xúc với các đồng trí cách mạng ưu tú, trong đó có chủ tịch Tôn Đức Thắng…

Ông càng được cổ vũ, khuyến khích theo đuổi sự nghiệp thuốc Nam của Tuệ Tĩnh. Lợi dụng những lúc đi làm khổ sai, ông tổ chức hái lượm những cây thuốc xung quanh đảo, bí mật lấy nhà bếp là nơi chế biến thuốc, chữa cho tù nhân chính trị và các bạn tù khác. Cứu được nhiều chiến sĩ ưu tú của Đảng ta.

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU CHỮA BỆNH TRONG THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN

Sau cách mạng tháng tám (1945) ông được trở về đất liền, tiếp tục hoạt động cách mạng, nhưng chủ yếu phát triển thuốc nam chữa bệnh cho cán bộ, bộ đội và nhân dân. Ông đã tham gia nhiều cương vị và ở nhiều địa bàn công tác khác nhau: trưởng ty công an tỉnh Sa Đéc, trưởng ban Quân y bộ đội tình nguyện Việt Nam tại campuchia, phó ban đông y Nam Bộ…

Dù ở đâu và bận nhiều công việc, ông vẫn dành thời gian nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm khám chữa bệnh viết sách truyền dậy học trò, tổ chức sao chế thuốc thang, thuốc hoàn, tán chữa bệnh cho bộ đội ở tiền tuyến. Hướng dẫn nhân nhân trồng kiếm hái cây thuốc xây dựng tủ thuốc gia đình, tủ thuốc kháng chiến.

Ông còn công tác với bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, trưởng ban đông y Nam Bộ, một thầy thuốc tây y giầu nhiệt huyết đông y nghiên cứu đơn thuốc nam “Căn bản” của lương y Võ Tuấn Hưng cống hiến cho ban đông y rồi đem kiến thức, kinh nghiệm đúc kết thành “Toa căn bản” vận dụng chữa được nhiều loại bệnh theo hướng kết hợp Đông – Tây y, trên cơ sở ba nguyên tắc: “giải độc, kích thích, điều hòa” chữa bệnh cho nhân dân trong chín năm kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ.

Năm 1954, tập kết ra Bắc, ông tình nguyện xin rời khỏi viện chống Lao Trung Ương, tình nguyện về các địa phương xây dựng tủ thuốc Nam nông hội Nam Tiến, tủ thuốc nam Tân Tiến Bính Lục. Hà Nam, tủ thuốc Hòa Xá, Ứng hòa (Hà Đông).

Ông là người trực tiếp khám bệnh, dạy các học trò là con em nông dân ở địa phương bốc thuốc, chế biến thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Hiểu rõ lợi ích của thuốc nam, cảm động trước tấm lòng của ông, hơn một nghìn cụ lão nông ở xã Nam Tiến, huyện Phú Xuyên (Hà Đông) đã ký vào văn bản kiến nghị xin: “Chính phủ cho nông dân được dùng thuốc nam”.

Năm 1957, ông trở về Hà Nội tham gia trong ban vận động Hội đông y Việt Nam. Vẫn là con người rất coi trọng hoạt động thực tiễn, ông xây dựng Hợp tác xã Y dược liên khu 5. Tập đoàn đông y miền nam ngã tư Sở và xây dựng Hợp tác xã thuốc dân tộc Chùa Bộc nổi tiếng ở Hà Nội.

Ông đề ra khẩu hiệu: “Làm như nhà nước, làm bằng nhà nước, làm hơn nhà nước để giúp nhà nước”. Trong số rất nhiều bệnh nhân đến khám bệnh và điều trị ở Chùa Bộc, có cháu Hồng Nga con gái 7 tuổi của phó thủ tưởng Lê Thanh Nghị, mắc bệnh phù viêm thận rất nặng được ông chữa khỏi. Đây là một trong những bệnh án điển hình thể hiện tài năng và hiệu quả tuyệt vời của thuốc Nam. Biết việc này đồng chí Lê Đức Thọ ủy viên Bộ chính trị, Trưởng ban tổ chức trung ương đến thăm động viên “Ba Kiều Côn Lôn” ngày trước, nay đang phát huy truyền thống đại danh y Tuệ Tĩnh rất thiết thực ở thủ đô Hà Nội.

Lương Y Nguyễn Kiều
Lương Y Nguyễn Kiều

Năm 1960, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, viện trưởng Viện nghiên cứu đông y trung ương mời ông về làm chủ nhiệm khoa thuốc Nam của viện. Năm 1961, ông được Bộ y tế giao làm hiệu trưởng trường thuốc ta Vĩnh Phúc. Trường mở được ba khóa đào tạo được 300 lương y, bổ túc cho hàng chục y bác sĩ về y học dân tộc. Cuối năm 1965 do khó khăn về cơ sở vật chất và trong hoàn cảnh đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trường phải ngừng hoạt động. Công tác đào tạo được chuyển về Viện Nghiên cứu Đông y Trung ương.

Ông được nghỉ hưu ở tuổi 73. Ông ở lại Vĩnh Phúc giúp địa phương và học trò phát triển thuốc Nam, viết sách tu chỉnh tài liệu giảng dạy. Ông tin chính phủ sẽ cho mở trường thuốc Nam.

Tháng 2 năm 1967, ông trở về tỉnh Hà Tây xây dựng tủ thuốc nam Hợp tác xã nông nghiệp Hà Trì, xã viên uống thuốc không mất tiền nên còn gọi là tủ thuốc xã hội chủ nghĩa được Đảng bộ và nhân xã Hà Cầu, thị xã Hà Đông hết lòng ủng hộ. Ông còn nhận làm cố vấn thuốc Nam bộ tư lệnh công an nhân dân vũ trang. Cố vấn thuốc Nam ty y tế Hà Tây.

Tháng 9 năm 1968 ông mở lớp thuốc Nam Nguyễn Kiều cho 35 y bác sĩ lương y của tỉnh Hà Tây. Chương trình dạy và học theo cách của ông: vừa học vừa làm, tối học lý thuyết, ngày đi tìm kiếm cây thuốc mang về sao tẩm bào chế, rồi trực tiếp khám chữa bệnh cho nhân dân. Ngôi chùa Hà Trì vốn yên tĩnh nay trở nên tấp nập. Chủ tịch Tôn Đức Thắng và nhiều đồng trí trung ương đến thăm và khám bệnh.

Đầu năm 1969, thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm tủ thuốc nam Hà Trì. Thủ tướng cho ông biết: Chính phủ đã giao Bộ y tế nghiên cứu đề xuất của ông mở trường thuốc nam, đào tạo nguồn nhân lực YHDT nằm trong hệ thống các trường cao đẳng, đại học chính quy của Nhà Nước. Cũng theo đề nghị của ông, Thủ tướng đồng ý giao cho Bộ tư lệnh công an nhân dân vũ trang cử y bác sĩ đến học thừa kế và giúp ông tổ chức và điều hành các hoạt động của trường.

HIỆU TRƯỞNG ĐẦU TIÊN CỦA TRƯỜNG TUỆ TĨNH

Năm 1971, ở tuổi 80 ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng đầu tiên của trường Tuệ Tĩnh- Bộ y tế.

Hơn 60 thực tế chữa bệnh cho cán bộ, nhân dân ở cả hai miền Nam Bắc và miệt mài nghiên cứu các sách của Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, cũng như các phương pháp của y học hiện đại, đã giúp ông hiểu biết và nắm vũng nhiều loại bệnh của nhân dân. Kế thừa được nhiều kinh nghiệm dân gian, tích lũy được nhiều kinh nghiệm của bản thân.

Dựa trên nền tảng y học cổ truyền dân tộc Việt Nam, liên hệ, vận dụng hệ tư tưởng Mác – Lê Nin và phương pháp duy vật biện chứng một cách sáng tạo, ông đã đề ra phương pháp chữa bệnh theo 10 nguồn, ba bệnh tổng hợp, bảy bệnh khó chữa… mỗi loại bệnh chứng đều có cách phòng chữa thích hợp.

Ông khát khao xây dựng nền y học dân tộc Việt Nam độc lập, tự chủ, tự cường, không phụ thuộc thuốc nước ngoài. Người nghèo uống thuốc không phải mất tiền. Đi đến đâu ông cũng sử dụng ngay những vị thuốc sẵn có chữa bệnh cho nhân dân.
Ông phát hiện nhiều loại bệnh phức tạp mà nguồn gốc do ứ huyết gây ra. Kết hợp nghiên cứu thuốc của môn phái võ thuật, ông chế ra bài “Trật đả” chuyên trị bệnh nặng có hiệu quả là một trong những khoa chữa bệnh độc đáo của trường Tuệ Tĩnh.

Song song với chữa bệnh ông dành nhiều thời gian cho viết sách giảng dạy, đào tạo các thế hệ tiếp nối. Ông chủ trương dạy học trò bằng nhiều lối: “Học luôn đi đôi với hành” lý thuyết phải gắn liền với thực tế, đồng thời giáo dục ý trí tiến công cách mạng, lập trường kiên định đường nối y học dân tộc của Đảng và Bác Hồ.

Từ đó nâng cao đạo đức, trách nhiệm, động cơ, thái độ của người thầy thuốc. Trong từng khâu chẩn đoán, điều trị, dùng thuốc chăm sóc phục vụ người bệnh kịp thời, thuận tiện nhiều nhanh tốt rẻ.

Ông tổng kết chắt lọc các sách ông viết trước đây đã giảng dạy và phổ biến trong giới đông y gồm có.

1. Sổ tay thuốc ta nhân dân. Bản thảo tính thuốc Nam (lưu hành ở nam bộ).
2. Tuyên ngôn y học tổ quốc – Năm nguyên tắc 13 điểm chỉ dẫn sử dụng dược trong điều trị.
3. Vấn đề chẩn đoán phòng chữa và cơ sở bệnh lý học.
4. Vấn đề chẩn trị thực tiễn. 500 chứng. 10 nguồn bệnh.
5. Lý thuyết trường sinh và vấn đề sinh lý trong thuốc ta.
6. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề ăn uống chữa bệnh.
7. Cơ bản tính thuốc Nam (nhà xuất bản y học Bộ y tế 1962).
8. Vấn đề dược lý học và dược nghiệp học.
9. Bản thảo thuốc Việt Nam Côn Lôn.
10. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền y học dân tộc Việt Nam.
11. Vấn đề tổ chức nuôi trồng bảo tồn dược liệu và sản xuất thuốc theo phương pháp hiện đại, tiến tới không phải phụ thuộc thuốc nước ngoài.
12. Đấu tranh chống quan niệm sai lầm, bảo về sự trong sáng của y học dân tộc.
13. Vấn đề tổ chức phòng bệnh rộng rãi trong cả nước, dưỡng sinh bảo vệ môi trường sống, cải tạo nòi giống.
14. Vấn đề đào tạo đội ngũ cán bộ y tế xã hội chủ nghĩa trên cơ sở thực tế nâng cao y học đan tộc, kết hợp y học dân tộc với y học hiện đại, tiến tới người nghèo chữa bệnh không phải mất tiền.

Ông biên soạn thành trương trình giảng dạy của trường Tuệ Tĩnh. Ông viết lời đề tựa tâm huyết: “Sách hay để cung cấp cho các trường – lớp học thuốc ta trên toàn miền Bác và dành cho miền Nam sau ngày thống nhất nước nhà, giúp cho các nhà nghiên cứu một tài liệu thực tiễn y học dân tộc để góp phần xây dựng nền y học tổ quốc của nước nhà.”

Năm 1974, ông bước vào tuổi 83, những đòn tra tấn hiểm độc của kẻ địch với 15 năm sống khắc khổ trong nhà tù đế quốc và cả thời gian dài làm việc không nghỉ, nhất là sau đợt dốc sức chữa khỏi bệnh phù viêm thận nhiễm mỡ con trai đồng trí tổng bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào. Sức khỏe của ông giảm sút đi nhiều. Bệnh đại tràng lại tái phát, ông tự ra đơn thuốc điều trị giao cho học sinh thực hiện.

Ông gấp rút truyền dạy học sinh thừa kế tâm đắc chữa những bệnh khó. Ông không có tài sản riêng và gia đình riêng, ông sống tiêm cần giản dị dành phần nhiều tiền lương của mình cho học sinh nghèo hiếu học và những người bệnh khó khăn. Biết bệnh biết mệnh, ông căn dặn học trò hãy an táng ông ở Phượng Dực để sớm tối thầy trò được gần nhau.

Ông qua đời tại trường Tuệ Tĩnh ngày 02-12-1974, Tức ngày 19 tháng 10 năm Giáp Dần, hưởng thọ 83 tuổi.

Với công lao công hiến với cách mạng và sự nghiệp y học dân tộc, ông đã được nhà nước và chính phủ tặng thưởng:
– Huân chương kháng chiến hạng nhất.
– Huy hiệu thành đồng tổ quốc.
– Huân chương lao động hạng ba (1962)
Và nhiều danh hiệu cao quý khác.

Nhiều học trò của Lương y Nguyễn Kiều trong đó có người từ người bệnh được ông dày công rèn dạy đã trở thành thầy thuốc giỏi.

Lăng của Lương Y Nguyễn Kiều
Lăng của Lương Y Nguyễn Kiều

Nhiều học sinh xuất sắc đã trở thành giám đốc bệnh viện YHCT, chủ tịch Hội đông y tỉnh thành phố như: Bác sĩ Hoàng Thủ – Giám đốc bênh viện YHCT trung ương quân đội; Giáo sư, Bác sĩ bùi Chí Hiếu – Hiệu trưởng trường Tuệ Tĩnh II thành phố Hồ Chí Minh; Lương y Võ Bá Long – Giám đốc Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc, chủ tịch Hội đông y Phú Khánh…

Để ghi nhớ công đức một người thầy đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, thủy chung vàng son với nền Nam Y nước nhà: các thế hệ lãnh đạo, cán bộ viên chức, học sinh của trường và hội đồng môn Tuệ Tĩnh đã cùng nhau góp công đức xây dựng ngôi nhà thờ, tôn đạo mộ lương y Nguyễn Kiều tại nơi trường Tuệ Tĩnh xưa, nay là khu B của học viện, thôn Đồng Quan, xã Phượng Dực, huyện Phũ Xuyên, thành phố Hà Nội.

Ngày 02 tháng 12 hàng năm, nhà trường và hội đồng môn đều tổ chức gặp mặt các thế hệ cán bộ học sinh, kỷ niệm ngày mất của ông, kết hợp hội thảo khoa y về y dược cổ truyền và thuốc nam Nguyễn Kiều.

Học viện y dược học cổ truyền Việt Nam được thành lập theo quy định số 30/2005/QĐTTg ngày 02-2-2005 của Thủ Tướng Chính phủ trên cơ sở trường trung học y học dân tộc Tuệ Tĩnh, 34 năm xây dựng và trưởng thành. Trên nền tảng thừa kế tính hoa của y học cổ truyền dân tộc 4000 năm lịch sử. Học viện đang tiến tới trở thành trung tâm hàng đầu của đất nước và khu vực về đào tạo nguồn nhân lực y học cổ truyền bậc đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học về y dược cổ truyền dân tộc.

Tháng 12 năm 2015, tiến sĩ, bác sĩ Đậu Xuân Cảnh, giám đốc tiếp nối Học viện, đã lấy ngày 02 tháng 12 là ngày truyền thống văn hóa Học viện y dược học cổ truyền Việt Nam.

Chia sẻ ngay!
Share on FacebookShare on Google+Tweet about this on TwitterShare on LinkedInPin on PinterestEmail this to someone

Tags: ,

Tin tức khác

Gan nhiễm mỡ nên kiêng những thực phẩm gì là tốt nhất?

5 (100%) 3 votes Gan nhiễm mỡ là tình trạng hàm lượng mỡ trong gan nhiều hơn mức bình thường. Đa phần người bị gan nhiễm mỡ đa phần không có triệu chứng, tuy nhiên gan nhiễm mỡ là căn bệnh nguy hiểm bởi có 10 – 25% số bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ […]

Chi tiết

Uống thuốc bổ gan nhiều có tốt không

5 (100%) 4 votes Trước tình trạng gan đang bị nhiễm độc, tàn phá nặng nề thì không thể phủ nhận thuốc bổ gan đem lại nhiều lợi ích. Thuốc bổ gan là thuốc giúp mát gan, tiêu độc, giải nhiệt cho cơ thể nếu dùng đúng lúc và đúng cách, đúng liều lượng. Chính […]

Chi tiết

Cách chữa nóng gan hiệu quả nhất

5 (100%) 7 votes Gan là cơ quan quan trọng, đảm nhận các hoạt động quyết định trong cơ thể. Tuy nhiên, việc tích tụ các độc tố trong gan có thể cản trở gan thực hiện các nhiệm vụ quan trọng này. Để giữ cho lá gan khỏe mạnh và làm giảm nguy cơ […]

Chi tiết

Hỗ trợ trực tuyến

  • BS.YHCT - NP. Duy

    Call: 01644684426

    duyntp@mxgroup.com.vn

    NP. Duy

Địa chỉ Văn phòng

  • Văn phòng Lô 17BT4-1, khu nhà ở Trung Văn, P.Trung Văn, Q.Nam Từ Liêm, Tp.Hà Nội


    024.2239.1088